• :
  • :
LLVT THỪA THIÊN HUẾ ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH - LLVT TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THỰC HIỆN TỐT CUỘC VẬN ĐỘNG " PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG, CỐNG HIẾN TÀI NĂNG, XỨNG DANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ"
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đề cương Kỷ niệm 76 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang Quân khu IV (15/10/1945 - 15/10/2021)

Phần thứ nhất

76 NĂM XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU IV

 

I. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

1. Lực lượng vũ trang Quân khu ra đời và hoạt động trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

a. Lực lượng vũ trang Quân khu ra đời

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng và tất yếu phải tổ chức ra lực lượng vũ trang cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Xứ ủy Trung Kỳ, phong trào cách mạng của quần chúng đã diễn ra mạnh mẽ khắp các tỉnh Khu IV.

Cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh sục sôi của Nhân dân, các tổ chức vũ trang lần lượt ra đời, đầu tiên là các đội Tự vệ đỏ trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng công nông. Lực lượng “Tự vệ đỏ” là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên, trở thành tiền thân của lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam sau này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đội Tự vệ đỏ cũng được tổ chức và hoạt động phù hợp với tình hình của từng giai đoạn.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các tỉnh đã tổ chức ra đội quân chủ lực với tên gọi “Chi đội giải phóng quân”: Thanh Hóa có Chi đội Đinh Công Tráng (sau này là Trung đoàn 77), Nghệ An có Chi đội Đội Cung (sau này là Trung đoàn 57), Hà Tĩnh có Chi đội Phan Đình Phùng (sau này là Trung đoàn 103), Quảng Bình có Chi đội Lê Trực (sau này là Trung đoàn 18), Quảng Trị có Chi đội Nguyễn Thiện Thuật (sau này là Trung đoàn 95), Thừa Thiên Huế có Chi đội Trần Cao Vân (sau này là Trung đoàn 101). Đây là các trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu để xây dựng Đại đoàn 304, 325 và Trung đoàn 120 quân tình nguyện Việt - Lào sau này.

Trước sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng, do yêu cầu bố trí thế trận chung của cả nước, ngày 15/10/1945, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tổ chức các Chiến khu trong toàn quốc và Chiến Khu Bốn được thành lập, do đồng chí Lê Thiết Hùng làm Khu trưởng, đồng chí Hồ Tùng Mậu làm Chính trị ủy viên, cùng Xứ ủy Trung kỳ tiến hành tổ chức thành lập Chiến khu IV. Từ đây, Xứ ủy Trung kỳ có các cơ quan lãnh đạo Đảng, Mặt trận Việt Minh, chính quyền cách mạng và lực lượng vũ trang cách mạng, trực tiếp lãnh đạo các tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

b. Cùng toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam Bộ. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến”. Hướng ứng lời kêu gọi, các tỉnh Khu IV lập “Phòng Nam Bộ” ghi tên những người tình nguyện vào Nam chiến đấu và tổ chức các đơn vị Nam tiến, phong trào tình nguyện vào Nam giết giặc đã được mọi tầng lớp Nhân dân các tỉnh Khu IV hưởng ứng nhiệt liệt. Bộ Chỉ huy Chiến khu đã cử 5 đại đội giải phóng quân lên đường Nam tiến, trên đường từ Thanh Hóa vào đến Huế đã tăng cường thêm 5 đại đội. Các đơn vị giải phóng quân Chiến Khu IV đã lập công xuất sắc ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên.

Thực hiện Chỉ thị toàn quốc kháng chiến của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đêm 19/12/1946 quân và dân Khu IV đã nhất loạt tiến công quân Pháp, mở đầu là cuộc kháng chiến lúc 23 giờ ở Nghệ An bắt sống 34 quân Pháp tại Vinh và tịch thu vũ khí trang bị. Thừa Thiên nổ súng tiến công bao vây 750 lính Pháp tại Huế, sau 50 ngày đêm diệt hơn 200 tên.

Ngày 25/01/1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 120/SL tổ chức các Liên khu (Khu IV đổi tên thành Liên khu IV); đồng thời thành lập Phân khu Trị Thiên trực thuộc Liên khu IV. Liên khu IV sớm hình thành ba vùng rõ rệt: Thanh - Nghệ - Tĩnh là vùng tự do, không ngừng được xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng và thế trận, ngăn chặn âm mưu địch mở rộng chiến tranh; Bình - Trị - Thiên là tiền tuyến, quân và dân địa phương đã đương đầu một cách anh dũng với âm mưu bình định, khủng bố dã man, tàn bạo của địch; Miền Tây Liên khu được củng cố, các lực lượng vũ trang sát cánh cùng bộ đội giải phóng Lào chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế.

Tháng 10/1949, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Mặt trận Bình Trị Thiên - Trung Lào có nhiệm vụ tác chiến tập trung ở hướng chiến lược Đường số 9 - miền Trung Đông Dương, để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, lực lượng vũ trang được củng cố và trưởng thành, từ nền tảng là lực lượng dân quân du kích phát triển thành lực lượng vũ trang 3 thứ quân, từ phương thức lấy “du kích chiến” là cơ bản đến đẩy mạnh “vận động chiến”, thúc đẩy đấu tranh chính trị của Nhân dân lên đỉnh cao mới. Phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, Mặt trận Bình - Trị - Thiên đã mở 2 chiến dịch: Chiến dịch Lê Lai (từ 22/12/1949 đến 27/01/1950) và Chiến dịch Phan Đình Phùng (từ 15/6 đến 24/10/1950). Cả 2 chiến dịch đã phá thế phòng ngự liên hoàn, kiềm chế giam chân chủ lực địch và tiêu hao sinh lực địch, chặn đứng âm mưu tiến công của địch ra vùng tự do.

Những năm 1951 - 1953, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày càng vững mạnh, hoàn thành các nhiệm vụ giảm tô, chi viện sức người, sức của cho tuyến đầu Bình - Trị - Thiên và các chiến dịch lớn của cả nước; đồng thời nghiêm trị bọn phản động, tiêu diệt nhiều toán gián điệp, thổ phỉ ở miền núi phía Tây Liên Khu. Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, lực lượng vũ trang cùng với các tầng lớp Nhân dân đẩy mạnh tác chiến đánh bại các cuộc hành quân càn quét, bình định của địch và đập tan mọi âm mưu tập kích hòng làm suy yếu hậu phương ta; cùng với bạn Lào giành thắng lợi lớn trong Chiến dịch Thượng Lào tạo ra cục diện mới cho thắng lợi quyết định.

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Liên Khu IV đã tham gia cùng Bạn mở chiến dịch Trung Lào; tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng và cung cấp mọi nhu cầu cho chiến dịch Trung Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ; đẩy mạnh chiến tranh du kích ở chiến trường Bình - Trị - Thiên, tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân địch, phối hợp với chiến trường chính. Trên chiến trường Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, quân và dân Liên Khu IV đã cùng Bạn liên tục tấn công, giành thắng lợi giòn giã ở Thà Khẹt, Khăm Muộn, Xa vẳn Nạ khẹt, Lào ngam, Tha teng…, giải phóng một vùng rộng lớn 40 ngàn km2. Trên hướng Bình - Trị - Thiên, phong trào đấu tranh của quân và dân ta đã có bước tiến mới: đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và vận động binh lính ngụy ra hàng, liên tục chiến đấu kìm chân địch, đánh bại mọi cuộc hành quân càn quét của địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một chiến trường phối hợp. Đảng bộ và Nhân dân 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã dốc hết nhân tài, vật lực cho các hướng; trong đó Thanh Hóa và Bắc Nghệ An phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ; Nam Nghệ An và Hà Tĩnh phục vụ chiến dịch Trung, Hạ Lào.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Quân khu IV đã đánh 7.400 trận, tiêu diệt 69.800 tên địch, bắt 3.400 tên, ra hàng 4.500 tên; thu 8.130 súng các loại, phá hủy 366 xe cơ giới, 200 khẩu pháo và cối, 117 toa xe lửa, bắn rơi 13 máy bay. Chi viện cho tiền tuyến 134.700 thanh niên nhập ngũ, bổ sung đi các chiến trường gần 100.000 lượt người, hơn 2 triệu lượt người đi dân công hỏa tuyến, 120.000 lượt người đi mở đường chiến lược. Cung cấp cho chiến trường 870.000 tấn lương thực, thực phẩm, 900 tấn vũ khí do địa phương Liên Khu sản xuất; làm 5.300 km đường chiến lược, 145 cầu, 30 km đường xe goòng. Những đóng góp của quân và dân Liên Khu IV đã góp phần cùng cả nước đập tan cứ điểm Điện Biên Phủ (07/5/1954), kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

2. Lực lượng vũ trang Quân khu trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 - 1975)

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Vĩ tuyến 17 tạm thời chia cắt đất nước thành 2 miền Nam - Bắc; Liên Khu IV bị chia cắt thành 2 vùng, phía Bắc từ Vĩnh Linh đến Thanh Hóa được hoàn toàn giải phóng, 2 tỉnh phía Nam là Quảng Trị và Thừa Thiên Huế còn nằm trong vùng địch.

Do yêu cầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, ngày 24/4/1955, Liên Khu ủy Liên Khu IV bàn giao cho Liên Khu ủy Khu V lãnh đạo, chỉ đạo 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Ngày 16/6/1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 151/TTg thành lập khu Vĩnh Linh như một đơn vị tỉnh trực thuộc Trung ương. Ngày 03/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 017/SL thành lập Quân Khu IV, do đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Đôn làm Tư lệnh, Thiếu tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy. Ngày 06/4/1966, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên (B4) và đến 15/6/1966 quyết định mở Mặt trận đường 9 (B5) giao cho Quân khu IV đảm nhiệm.

a. Với tinh thần tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Quân khu IV hăng hái lao động sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh, huy động sức người, sức của cho các chiến trường

“Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” là khẩu hiệu hành động, là tình cảm thiêng liêng giục giã khắp các công trường, nhà máy, ruộng đồng. Nhiều phong trào thi đua đã được đẩy mạnh: “Gió đại phong”, “Cờ ba nhất”, Đoàn thanh niên 3 sẵn sàng, Phụ nữ 3 đảm đang, Mặt trận Tổ quốc kêu gọi “Toàn dân đoàn kết chống Mỹ”, các cháu thiếu niên nhi đồng “Vâng lời Bác làm nghìn việc tốt”, quân và dân tuyến lửa Vĩnh Linh bất khuất, một tấc không đi, một ly không rời, kiên cường bảo vệ quê hương dưới mưa bom, bão đạn của địch, tất cả để xây dựng hậu phương vững chắc và chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Toàn Quân khu có hơn 400 ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, trong đó có hơn 300 ngàn trực tiếp chiến đấu ở các chiến trường. Có hơn 8 triệu lượt thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến; những cô gái trên ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn… “sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”. Nhân dân Khu IV sẵn sàng “nhường nhà để hàng, nhường làng để xe”, đóng góp hơn 5 triệu ngày công giúp bộ đội đào công sự, xây dựng trận địa; tham gia gần 80 triệu ngày công bảo đảm giao thông huyết mạch để hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho miền Nam và chiến trường Đông Dương.

b. Quân dân Quân khu IV anh dũng đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Đầu tháng 8/1964, đế quốc Mỹ dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” để tạo cớ leo thang đánh phá miền Bắc. Trưa ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ đã sử dụng 64 lần chiếc máy bay đánh phá dữ dội cảng Cửa Hội, Vinh, Bến Thủy (Nghệ An), Cảng Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa), thị xã Hòn Gai, Bãi Cháy (Quảng Ninh), mở đầu cuộc tiến công xâm lược quy mô lớn đầu tiên của không quân Mỹ vào miền Bắc nước ta.

Trong các đợt leo thang bắn phá, từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh, đế quốc Mỹ đã huy động hàng chục vạn lần máy bay và hàng ngàn lần tàu chiến, dội hàng triệu tấn bom đạn vào gần 90% số thôn xã. Quân và dân Quân khu IV đã đánh trả hàng vạn trận lớn, nhỏ; bắn rơi 2.183 máy bay các loại (có 34 B52, 5 F111) bằng hơn ½ tổng số máy bay Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi; bắn chìm 258 tàu chiến Mỹ, góp phần bảo vệ thành quả xây dựng CNXH, bảo đảm thông suốt tuyến hành lang chi viện cho các chiến trường.

c. Quân dân Quảng Trị - Thừa Thiên trung dũng, kiên cường cùng cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của địch

Trong hoàn cảnh Mỹ ngụy khủng bố hết sức tàn bạo, quân và dân Quảng Trị, Thừa Thiên Huế vẫn ngoan cường bám trụ, củng cố và xây dựng lực lượng, tấn công địch bằng cả 3 mũi giáp công, trên 3 vùng chiến lược. 10 năm đầu là thời kỳ chuyển thế tấn công, giữ gìn lực lượng, tập trung làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “tố cộng, diệt cộng”, “bình định” của địch, chuẩn bị mọi mặt để tiến lên đồng khởi. Tiếp theo đó, lực lượng vũ trang đã cùng Nhân dân chiến đấu dũng cảm, giành thắng lợi trong các chiến dịch hè thu 1966, Đường 9 - Khe Sanh 1967; đặc biệt là trong cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, thành phố Huế trở thành chiến trường xuất sắc nhất và được tặng 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”.

Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, ngày 13/02/1972, thực hiện quyết định của Quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã giành thắng lợi ở nhiều nơi, giải phóng hoàn toàn Quảng Trị vào ngày 02/5/1972.

Mùa xuân năm 1975, phối hợp với các chiến trường, quân và dân ta càng đánh càng thắng lớn, đến ngày 26/3/1975, tỉnh Thừa Thiên Huế được giải phóng. Những thắng lợi đó của quân và dân Khu IV đã góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

3. Lực lượng vũ trang Quân khu trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (từ năm 1975 đến nay)

a. Mười năm tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN (1975 - 1985)

Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, phát huy truyền thống anh dũng kiên cường, bất khuất trong chiến tranh giải phóng, quân và dân Khu IV đã ra sức thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Ngày 06/2/1976, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định hợp nhất Quân khu IV và Quân khu Trị - Thiên thành Quân khu IV. Trong khi thực hiện nhiệm vụ khôi phục đất nước, Quân khu tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là: xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế.

Trên địa bàn Quân khu, đời sống của Nhân dân còn nghèo, hậu quả chiến tranh để lại vô cùng nặng nề, lực lượng vũ trang Quân khu vừa tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vừa tham gia phát triển kinh tế, như: khai thác gỗ, xây dựng lại tuyến đường sắt Minh Cầm - Tiên An, xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình, giúp Bạn Lào xây dựng cơ sở hạ tầng, rà phá bom mìn… Trước biến động của hai đầu đất nước, theo chỉ thị của Bộ, Quân khu đã điều động quân lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc và Tây Nam.

b. Lực lượng vũ trang Quân khu trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)

Qua gần 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy thành tích đã đạt được trong các cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang Quân khu và Nhân dân 6 tỉnh trên địa bàn đã tập trung nỗ lực củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn liền với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc; bản lĩnh chính trị và trình độ sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và các đơn vị ngày một nâng cao.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ cách mạng mới, lực lượng vũ trang Quân khu đã có những điều chỉnh về lực lượng, biên chế, tổ chức. Các đơn vị thường trực có sự thay đổi theo hướng tinh gọn chất lượng cao. Chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu được đặc biệt quan tâm xây dựng, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phòng chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Tăng cường phòng thủ sẵn sàng chiến đấu trên cả 3 tuyến: biển đảo, biên giới, nội địa. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân từng bước được xây dựng và củng cố cơ bản liên hoàn vững chắc. Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được chú trọng xây dựng củng cố cả về chất lượng, số lượng và hiệu quả hoạt động. Chất lượng xây dựng chính quy, xây dựng môi trường văn hóa đi vào chiều sâu. Diện mạo đơn vị ngày càng được đổi mới, khang trang, xanh, sạch, đẹp hơn; đời sống vật chất, tinh thần từng bước được cải thiện.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng ngày càng được nâng lên, nhất là sau khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng Đảng, tạo được chuyển biến tích cực cả về nhận thức chính trị tư tưởng, phẩm chất lối sống và thực hiện nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Tích cực đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, kết hợp chặt chẽ giữa công tác giáo dục với công tác quản lý con người, quản lý vũ khí trang bị kỹ thuật, gắn với công tác thi đua khen thưởng và phong trào thi đua quyết thắng, tạo sự chuyển biến thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào tôn giáo. Làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội; tham gia tích cực các hoạt động đền ơn đáp nghĩa và thực hiện tốt phong trào “Lực lượng vũ trang Quân khu chung sức xây dựng nông thôn mới”, tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng điểm sáng văn hóa. Thường xuyên chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức luyện tập, kịp thời cơ động và phối hợp với các lực lượng địa phương cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân trong thiên tai, bão lụt. Hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, bộ đội và dân quân tự vệ, hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men, đồ dùng học tập đã kịp thời giúp đỡ Nhân dân vùng bị nạn nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai, khôi phục sản xuất, xây dựng và sửa chữa nhà ở, khám chữa bệnh, để lại trong lòng Nhân dân hình ảnh đẹp về anh Bộ đội Cụ Hồ.

Phát huy tinh thần tự lực tự cường, quán triệt tốt phương châm trên dưới cùng lo, lực lượng vũ trang Quân khu đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất làm kinh tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội, với phong trào “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và thực hiện tiết kiệm với các phong trào, như: “Hũ gạo tiết kiệm”, “Tiết kiệm bản thân để phần người khó”, “Quỹ đồng đội”, “Giúp nhau vượt khó”

Công tác bảo đảm kỹ thuật, vũ khí trang bị có tiến bộ rõ nét. Thực hiện tốt nền nếp chính quy ngành kỹ thuật ở tất cả các đơn vị, kho trạm với cuộc vận động “Quản lý khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”. Cán bộ, chiến sỹ có tinh thần trách nhiệm, bảo quản giữ gìn tốt và sử dụng có hiệu quả các loại vũ khí trang bị kỹ thuật, bảo vệ an toàn kho tàng và không để xuống cấp hoặc hư hỏng. Phong trào phát huy sáng kiến, thực hành tiết kiệm phát triển sâu rộng, nhiều sáng kiến của Quân khu đã đạt nhiều giải cao trong hội thao toàn quân ngành kỹ thuật, nhiều tập thể và cá nhân được khen thưởng trong thực hiện cuộc vận động.

4. Làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào và Campuchia

Thấm nhuần đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giúp Bạn tức là tự giúp mình”, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với hai nước bạn Lào và Campuchia.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đã cùng Bạn xây dựng cơ sở kháng chiến, tham gia chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của Bạn đến thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, luôn kề vai sát cánh cùng bạn Lào phối hợp chiến đấu, làm thất bại nhiều đợt tiến công của địch như chiến dịch mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, chiến dịch Đường 9 Nam Lào… Nhiều cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của hai nước, góp phần đưa cách mạng của Bạn đến thắng lợi hoàn toàn.

Sau năm 1975, các đơn vị của Quân khu, như: Sư đoàn 968, Sư đoàn 324, Trung đoàn 176 vừa làm tròn nhiệm vụ giúp Bạn tiễu phỉ, vừa cùng Bạn thanh lọc địch ngầm, xây dựng cơ sở, củng cố chính quyền cách mạng, xóa đói giảm nghèo, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội. Một số đơn vị của Tổng Công ty Hợp tác kinh tế đứng chân trên đất bạn Lào vừa làm tốt nhiệm vụ quan hệ hợp tác kinh tế, vừa tham gia xây dựng cơ sở chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội giúp Bạn. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341, Tiểu đoàn 31 đặc công tham gia giải phóng đất nước Campuchia, cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Ngày nay, Quân khu IV và các tỉnh vẫn thường xuyên gìn giữ, bảo vệ, phát huy tốt mối quan hệ với Bạn, nhất là bạn Lào, cùng phối hợp, kết nghĩa các tỉnh, các địa phương 2 nước, xây dựng đường biên giới hữu nghị, hợp tác kinh tế - quốc phòng, văn hóa, góp phần tô thắm thêm tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt hai dân tộc và giữ gìn sự ổn định trong khu vực. Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức hợp tác với bạn trên các lĩnh vực, như: xây dựng cơ sở chính trị, công tác quân sự, hậu cần, kỹ thuật; hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh xây dựng, khai thác, chế biến gỗ, thăm dò, khai thác khoáng sản, du lịch… Cùng với các hoạt động về kinh tế, hợp tác an ninh - quốc phòng cũng được đẩy mạnh, tổ chức hội nghị liên tịch giữa Quân khu với Bộ Chỉ huy Quân sự 7 tỉnh của Bạn có chung đường biên giới với Quân khu; hoạt động rà phá bom mìn, vật nổ để thực hiện dự án tôn tạo, tăng dày hệ thống mốc quốc giới và nhiệm vụ tuần tra, truy quét tội phạm để bảo vệ an ninh biên giới chung giữa hai nước được tăng cường. Các cán bộ kỹ thuật của Quân khu trên cương vị là chuyên gia quân sự Việt Nam sang giúp Bạn về công tác kỹ thuật, như: bảo dưỡng, sửa chữa một số loại súng, pháo và xe quân sự; giúp Bạn sưu tầm hiện vật phục vụ trưng bày ở Bảo tàng Bản Đông… Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ; làm tốt công tác tìm kiếm, cất bốc, hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh trên đất Lào về nước…

Lực lượng vũ trang Quân khu đã phối hợp với Bạn quản lý, nắm chắc tình hình địa bàn, tích cực tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Lào. Các dự án về điện, đường, trường học, bệnh viện, hệ thống cung cấp nước sạch… do Quân khu thực hiện, đã giúp Bạn phát huy hiệu quả cả về kinh tế, chính trị và xã hội; đời sống Nhân dân từng bước được nâng cao.

II. TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU

1. Những nét tiêu biểu về truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu IV

Truyền thống của Lực lượng vũ trang Quân khu IV là sự kế thừa, phát huy, phát triển truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Quân đội và quê hương, được hình thành, kết tinh từ trong gian lao thử thách qua các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Vì vậy, truyền thống của Lực lượng vũ trang Quân khu IV vừa mang trong mình những tinh hoa, khí phách của dân tộc, của Quân đội vừa có những đặc trưng riêng của vùng đất và tư chất con người Khu IV.

Trải qua 76 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, sự nuôi dưỡng của Nhân dân, tạo điều kiện giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền các địa phương, của đơn vị Bạn và bạn bè quốc tế, Lực lượng vũ trang Quân khu đã không ngừng phát huy bản chất cách mạng, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo trong xây dựng, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của “Bộ đội Cụ Hồ” trên quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh.

a. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Là một phần Lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, 76 năm qua, trong mỗi chiến công, mỗi bước trưởng thành của Lực lượng vũ trang Quân khu đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó quyết định bản chất giai cấp, ý chí chiến đấu, tình yêu quê hương đất nước, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân của Lực lượng vũ trang Quân khu. Lực lượng vũ trang Quân khu sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của Quân đội, đó là: Độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân, xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới. Đó là mục tiêu phấn đấu, nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc Việt Nam; đồng thời cũng là nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu. Vì vậy, Lực lượng vũ trang luôn một lòng trung thành và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, gian khổ ác liệt đến đâu, Lực lượng vũ trang Quân khu vẫn kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Quân đội giao phó. Tinh thần sẵn sàng xả thân, hy sinh tính mạng vì nước, vì dân đã trở thành tình cảm, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị của mọi cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu. Qua các cuộc kháng chiến, lòng trung thành biểu hiện tập trung nhất ở ý chí quyết tâm đánh thắng quân xâm lược, giải phóng quê hương. Ngay thời điểm khó khăn nhất, cán bộ, chiến sĩ vẫn ngời sáng một niềm tin sắt son vào Đảng vào sự tất thắng của cách mạng “mất đất chưa phải là mất nước”, kiên cường bám dân xây dựng lực lượng và đánh địch.

Nhiều người con ưu tú của quê hương Khu IV đã trở thành biểu trưng của lòng dũng cảm, như: anh hùng Lâm Uý đánh giáp la cà vật lộn với giặc Pháp trên sông Kiến Giang (Quảng Bình), Cù Chính Lan dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng địch trên đường số 6, Tô Vĩnh Diện chèn thân cứu pháo, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Lê Mã Lương với câu nói trở thành khẩu hiệu hành động của cả một thế hệ “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, hoặc những tấm gương của các cụ dân quân Hoằng Trường (Hoằng Hóa - Thanh Hóa); 11 cô gái sông Hương, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc... Những khẩu hiệu “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Nhường nhà để hàng, nhường làng để xe”, “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”… đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong kháng chiến. Nhiều tên đất, tên làng Khu IV đã trở thành những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bối cảnh quốc tế khu vực diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch phản động ráo riết chống phá cách mạng nước ta, địa bàn Quân khu IV là một trong những trọng điểm phá hoại của chúng. Trong bối cảnh đó, Lực lượng vũ trang Quân khu luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân.

b. Có ý chí quyết chiến, quyết thắng và biết đánh, biết thắng mọi kẻ thù

Truyền thống quyết chiến, quyết thắng và biết đánh, biết thắng được bắt nguồn từ lòng tin tưởng tuyệt đối vào mục tiêu lý tưởng, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân, tinh thần cách mạng tiến công, kế thừa truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất và tài thao lược của dân tộc; từ tình đoàn kết trong nội bộ, cán bộ, chiến sĩ thương yêu, tôn trọng giúp đỡ nhau; từ ý thức tổ chức kỷ luật tự giác nghiêm minh, tinh thần tự lực tự cường. Vì vậy, đã giúp Lực lượng vũ trang Quân khu không chỉ có quyết tâm đánh thắng kẻ thù mà còn nêu cao tinh thần tích cực, chủ động, khắc phục khó khăn, mưu trí, sáng tạo nghĩ ra những cách đánh thông minh, độc đáo đạt hiệu suất cao.

Không chỉ trong chiến đấu mà trong xây dựng ý chí quyết chiến quyết thắng và biết đánh, biết thắng của Lực lượng vũ trang Quân khu cũng được phát huy cao độ. Thực tiễn cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ, dù là nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tăng gia sản xuất, làm kinh tế hay tham gia phòng, chống thiên tai, dù là lực lượng thường trực, dân quân tự vệ, dự bị động viên, hay các doanh nghiệp; dù ở đồng bằng, thành thị hay miền núi, vùng sâu, vùng xa, cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu đều thống nhất ý chí và hành động, năng động, sáng tạo, đoàn kết một lòng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao nhất.

c. Gắn bó máu thịt với Nhân dân, quân với dân một ý

Mối quan hệ máu thịt với Nhân dân của Lực lượng vũ trang Quân khu được kế thừa từ bản chất, truyền thống của Quân đội ta “Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, dưới sự lãnh đạo, giáo dục rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là con em của Nhân dân được hình thành và tôi luyện trong phong trào cách mạng sục sôi của Nhân dân, 76 năm qua, Lực lượng vũ trang Quân khu IV luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Vì Nhân dân phục vụ, vì Nhân dân quên mình đã trở thành phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ.

Trong kháng chiến, cán bộ, chiến sĩ không quản ngại hy sinh để giải phóng dân, bảo vệ dân. Khi hòa bình, Lực lượng vũ trang Quân khu đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, giúp đỡ Nhân dân, nhất là những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, thiên tai. Những hành động xả thân cứu người, cứu tài sản trong thiên tai, bão lụt là một minh chứng cho tinh thần sẵn sàng hy sinh quên mình vì dân ngay cả trong thời bình của Lực lượng vũ trang Quân khu IV.

Là đội quân công tác, Lực lượng vũ trang Quân khu đã tích cực tham gia lao động sản xuất, xung kích đến những nơi có nhiều khó khăn gian khổ, vùng sâu, vùng xa giúp Nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, tuyên truyền vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ máu thịt với Nhân dân chính là một trong những nhân tố quan trọng để Lực lượng vũ trang Quân khu tiến bộ, trưởng thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ 76 năm qua. Các tầng lớp Nhân dân coi cán bộ, chiến sĩ như con em của mình, hết lòng cưu mang, chở che, giúp đỡ nhất là những lúc khó khăn, hiểm nghèo. Nhân dân đào hầm che giấu cán bộ, chiến sĩ khi bị địch vây ráp, chăm sóc chu đáo khi bị thương. Mặc dù đời sống còn nhiều khó khăn, nhưng Nhân dân vẫn hết lòng thương yêu chiến sĩ “Hạt gạo cắn đôi, bát cơm sẻ nửa”, chịu đựng thiếu thốn để bộ đội được ăn no, mặc ấm. Những năm tháng chiến tranh ác liệt, dọc đường hành quân, bộ đội được động viên bởi những “quán cơm quân nhân, quán nước quân nhân”. Đây chính là tình người dân Khu IV với chiến sĩ.

76 năm qua, quân và dân Quân khu IV đã kề vai sát cánh bên nhau, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thách thức lập nên những chiến công vang dội. Trong mọi hoàn cảnh, Lực lượng vũ trang Quân khu luôn một lòng, một dạ với Nhân dân, tôn trọng Nhân dân, giúp đỡ Nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ luật quan hệ quân dân, để không phụ lòng tin cậy yêu mến của Nhân dân, qua đó mà từng bước trưởng thành.

d. Hậu phương - tiền tuyến đồng lòng, luôn vì cả nước, với cả nước

Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, địa bàn Quân khu IV vừa là tuyến đầu chống giặc, vừa là hậu phương vững chắc. Trong kháng chiến chống Pháp, Khu IV đã trở thành “căn cứ địa vững chắc thứ hai trong cả nước, sau Việt Bắc”. Trong chống Mỹ, do vị trí đặc biệt quan trọng, Quân khu IV là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam, là huyết mạch giao thông chi viện cho các chiến trường.

Sinh trưởng trên một địa bàn đặc thù như vậy, Lực lượng vũ trang Quân khu IV đã cùng với các tầng lớp Nhân dân hoàn thành nhiệm vụ mà lịch sử giao phó, vừa anh dũng chiến đấu giải phóng quê hương, bảo vệ thành quả cách mạng, vừa chi viện sức người, sức của cho các chiến trường, vừa làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, xây đắp nên nét đẹp truyền thống cũng rất đặc thù của miền đất “địa linh nhân kiệt” này. Tiền tuyến gọi, hậu phương đáp lời, cả nước gọi Quân khu IV có mặt, cách mạng Bạn gọi Quân khu IV sẵn sàng; hậu phương - tiền tuyến đồng lòng luôn vì cả nước, với cả nước.

Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, hàng chục vạn con em Khu IV đã lên đường nhập ngũ tham gia chiến đấu ở các chiến trường trong nước và quốc tế. Các đơn vị chủ lực nối tiếp nhau ra trận, đơn vị này lên đường, ở hậu phương lại tiếp tục tổ chức xây dựng các đơn vị khác để nối tiếp. Hàng chục vạn dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, hàng chục triệu ngày công được huy động để phục vụ chiến đấu, bảo đảm giao thông chi viện cho các chiến trường. Quân khu IV là nơi tập kết, là nơi xuất phát của các đơn vị chủ lực của Bộ vào Nam đánh giặc. Nhân dân Khu IV sẵn sàng chịu đựng thiếu thốn, cống hiến tài sản, con người cho cách mạng. Vượt qua gian khổ, hy sinh, quân và dân ở các vùng bị địch chiếm đóng đã kiên cường bám đất, một tấc không đi, một ly không rời, chiến đấu dũng cảm, vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa xây dựng lực lượng, giải phóng quê hương.

Có thể nói rằng, sự nghiệp giải phóng dân tộc, hậu phương - tiền tuyến Quân khu IV phối hợp nhịp nhàng, cùng chia lửa chiến đấu, vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi, chiến trường càng thắng lớn hậu phương càng phấn khởi hăng hái sản xuất, thi đua lập công. Đặc biệt trong những năm chống Mỹ, cứu nước, mảnh đất Khu IV vừa xây dựng CNXH, chi viện sức người, sức của cho chiến trường, vừa phải đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng hải quân và không quân của địch để bảo đảm huyết mạch giao thông cho cuộc chiến đấu của Nhân dân ta ở miền Nam, vừa kiên cường chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên, vừa giúp đỡ cách mạng Bạn thì truyền thống “Hậu phương, tiền tuyến đồng lòng, luôn vì cả nước với cả nước” được phát triển rực rỡ và là niềm tự hào của Nhân dân và các Lực lượng vũ trang Quân khu IV.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, truyền thống ấy tiếp tục được cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu phát huy và phát triển vào điều kiện mới, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây đất nước ngày càng giàu mạnh, nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù và bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ Nhân dân.

e. Có tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, đặc biệt gắn bó thủy chung với cách mạng Lào

Thấm nhuần lời dạy của Bác “Giúp Bạn tức là tự giúp mình”, qua các cuộc kháng chiến, Lực lượng vũ trang Quân khu IV đã sánh vai cùng quân đội, Nhân dân hai nước bạn Lào và Campuchia chiến đấu chống kẻ thù chung. Các đơn vị tình nguyện của Quân khu IV không chỉ cùng với Bạn đánh địch mở rộng vùng giải phóng mà còn giúp Bạn xây dựng cơ sở chính trị, củng cố chính quyền cách mạng, vận động Nhân dân Bạn tin theo cách mạng, góp phần đưa cách mạng Lào đến thành công, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Hòa bình lập lại, Lực lượng vũ trang Quân khu lại tiếp tục giúp bạn Lào trên nhiều lĩnh vực, nhiều đơn vị của Quân khu đã trực tiếp giúp Bạn trừ phỉ, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng các công trình kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới. Điều đó đã vun đắp cho mối tình đoàn kết giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương thêm thắm mãi, góp phần xây dựng tình đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới cùng đấu tranh chống cường quyền, áp bức bóc lột vì mục tiêu, hoà bình, tiến bộ của nhân loại.

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, lực lượng vũ trang Quân khu hơn lúc nào hết phải tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tăng cường đoàn kết hữu nghị với quân đội các nước trong khu vực, đặc biệt là với quân đội và Nhân dân nước bạn Lào vì sự ổn định và phát triển của từng quốc gia và trong khu vực.

2. Những phần thưởng cao quý

Qua 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Lực lượng vũ trang Quân khu IV vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: 02 Huân chương Sao vàng (1985 và 2010); 02 Huân chương Hồ Chí Minh (1979 và 2001); 01 Huân chương Độc lập hạng Nhất (1965); 01 Huân chương Độc lập hạng Nhì và nhiều Huân chương khác; 1.047 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân (trong kháng chiến chống Pháp: 21; trong kháng chiến chống Mỹ: 990; trong BVTQ: 13; trong thời kỳ đổi mới: 23, trong đó có 01 Anh hùng Lao động); 393 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (trong kháng chiến chống Pháp: 18; trong kháng chiến chống Mỹ: 353; trong BVTQ: 17; trong thời kỳ đổi mới: 5, trong đó 1 Anh hùng Lao động). Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và nhiều đơn vị trong Quân khu được tặng nhiều Huân chương, Huy chương và những phần thưởng cao quý khác của Đảng, Nhà nước ta và Nhà nước Bạn.

 

Phần thứ hai

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG,

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU IV

VÀ NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH,

HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ của nước ta, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Tình hình đó đặt ra cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân những yêu cầu mới cao hơn.

Trên địa bàn Quân khu, tình hình kinh tế - xã hội ở các địa phương đã có bước phát triển, quốc phòng - an ninh từng bước được nâng lên, song còn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị tăng cường các hoạt động chống phá, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo diễn biến phức tạp; đời sống Nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa; thiên tai, dịch bệnh có thể gây thiệt hại lớn không lường trước được…

Trước thời cơ và thách thức mới, lực lượng vũ trang phải luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống vẻ vang 76 năm của “Bộ đội Cụ Hồ”, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với mọi hoạt động của lực lượng vũ trang, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh; cùng cấp ủy, chính quyền và Nhân dân các địa phương xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh thành khu vực phòng thủ “cơ bản, liên hoàn, vững chắc”; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, toàn diện theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới (xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng; làm tốt công tác xây dựng lực lượng; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang; nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỹ luật trong các đơn vị thường trực); tổ chức tốt công tác hậu cần - tài chính, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; tăng cường tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Lực lượng vũ trang Quân khu IV quyết tâm phấn đấu làm tốt những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với mọi hoạt động của Lực lượng vũ trang Quân khu, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh

Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự và quốc phòng của Đảng, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới, vừa tập trung phát triển kinh tế, vừa tăng cường tiềm lực quốc phòng, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, tạo ra thế và lực mới cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, có chất lượng tổng hợp, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Lực lượng vũ trang Quân khu. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các lực lượng, các tổ chức để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng ở các địa phương và trên địa bàn Quân khu. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng các kế hoạch, các dự án phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp với xây dựng khu vực phòng thủ, cụm an toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu, nhất là trên các vùng chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ, biên giới, hải đảo.

 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp Nhân dân về quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, đường lối, quan điểm của Đảng về hai nhiệm vụ chiến lược, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay, nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhiệm vụ của quân đội, của Quân khu, từng địa phương, đơn vị, tập trung sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, trọng tâm là xây dựng các tỉnh, huyện trên địa bàn thành khu vực phòng thủ “cơ bản, liên hoàn, vững chắc”, gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân; đẩy mạnh xây dựng Lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng “cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, thường xuyên giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù; đồng thời đẩy mạnh giáo dục quốc phòng, giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, của mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực mà nền tảng vững chắc, là sự ổn định chính trị xã hội, sự tin tưởng của toàn dân đối với đường lối đổi mới của Đảng, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, giữa quân với dân, sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân.

Do vậy, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Quân khu vững chắc, trước hết chúng ta phải coi trọng xây dựng thế trận lòng dân. Ra sức xây dựng nền tảng, tiềm lực chính trị tinh thần ngày càng cao, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khoẻ và thể chất của Nhân dân. Gắn tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc với chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nòng cốt là liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn diện bảo vệ Tổ quốc.

Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu, đủ khả năng làm vai trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc địa bàn trong mọi tình huống.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp làm then chốt. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện quân sự sát với đặc điểm địa bàn, tình hình nhiệm vụ chiến đấu, cách đánh của ta, giỏi tác chiến bằng vũ khí, kỹ thuật. Kết hợp huấn luyện với tổ chức thực hành diễn tập của các cấp; gắn huấn luyện của các đơn vị chủ lực với yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), huyện (thị xã) với xây dựng cụm tuyến an toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu; hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và phối hợp hoạt động có hiệu quả với lực lượng Công an, Biên phòng các địa phương; góp phần đảm bảo cho Lực lượng vũ trang Quân khu tiếp tục làm tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân liên hoàn, vững chắc; sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc địa bàn, góp phần cùng cả nước xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thế trận quốc phòng toàn dân phải được tổ chức, bố trí toàn diện trên từng địa bàn, từng vùng, trên tất cả các lĩnh vực. Các địa phương, các ngành, các vùng trên địa bàn Quân khu phải thực hiện tốt nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng - an ninh với kinh tế, góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng trên địa bàn Quân khu và cả nước. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở, xã, phường, cụm an toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tập trung sức xây dựng các khu vực phòng thủ vững mạnh trên các hướng, nhất là các khu vực trọng điểm, hải đảo, biên giới, địa bàn chiến lược, chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Mặt khác, phải đầu tư nâng cao năng lực bảo quản, sửa chữa các loại vũ khí trang bị kỹ thuật hiện có, sẵn sàng tiếp thu, ứng dụng công nghệ hiện đại, góp phần cùng cả nước chăm lo xây dựng nền công nghiệp quốc phòng. Làm tốt chính sách hậu phương Quân đội, giải quyết tồn đọng chiến tranh, tiếp tục đưa phong trào đền ơn, đáp nghĩa thành phong trào sâu rộng, tự giác của Nhân dân và lực lượng vũ trang; đồng thời làm tốt công tác tuyển gọi thanh niên nhập ngũ và có chính sách phù hợp với quân nhân hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương.

3. Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

a. Xây dựng Lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng

Trước tình hình mới, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tập trung mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của cả 3 thứ quân; trong đó lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, bảo đảm cho Lực lượng vũ trang Quân khu luôn xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, kiên định vững vàng trong mọi tình huống, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Nâng cao chất lượng chính trị của Lực lượng vũ trang Quân khu trước hết là phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với Lực lượng vũ trang Quân khu, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng bộ, chi bộ trong quá trình xây dựng và trưởng thành của lực lượng vũ trang.

Tăng cường bồi dưỡng bản chất giai cấp công dân, ý chí chiến đấu, ý thức phấn đấu vươn lên, phẩm chất đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ”, niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm Lực lượng vũ trang Quân khu luôn là lực lượng chính trị trung thành, lực lượng chiến đấu tin cậy của Đảng và Nhân dân.

Thường xuyên nâng cao kiến thức toàn diện và kỹ năng chuyên môn giỏi, tỉnh táo, nhạy bén, sắc sảo trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình, cùng toàn dân làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch nhất là trên mặt trận chính trị tư tưởng.

b. Làm tốt công tác xây dựng lực lượng; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện và trình độ sẵn sàng chiến đấu của Lực lượng vũ trang Quân khu cả ba thứ quân

  Tiếp tục củng cố, ổn định tổ chức biên chế các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương theo kế hoạch tổ chức Quân đội thời bình, bảo đảm gọn, mạnh, cơ động nhanh, sẵn sàng chiến đấu cao. Xây dựng lực lượng dự bị động viên có đủ số lượng và chất lượng, sẵn sàng động viên mở rộng lực lượng khi cần. Tiếp tục củng cố Lực lượng dân quân tự vệ theo phương châm “vững mạnh, rộng khắp”, có số lượng, cơ cấu phù hợp, chất lượng và độ tin cậy cao, đặc biệt chú trọng dân quân tự vệ ở các vùng trọng điểm, không ngừng nâng cao chất lượng, độ tin cậy, hiệu quả hoạt động của dân quân tự vệ, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; thường xuyên nắm chắc số lượng, chất lượng của lực lượng dự bị động viên, sẵn sàng động viên vào Quân đội khi cần. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự sát với đặc điểm tình hình nhiệm vụ và điều kiện mới. Huấn luyện bộ đội giỏi tác chiến bằng vũ khí, trang bị hiện có trong biên chế và khi được tăng cường binh khí kỹ thuật, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng. Kết hợp tốt kiến thức quân sự hiện đại với kinh nghiệm truyền thống, cách đánh sở trường của Lực lượng vũ trang Quân khu theo nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, sẵn sàng đánh thắng địch khi tiến hành chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. 

Nội dung huấn luyện phải toàn diện, coi trọng cả huấn luyện đồng bộ và huấn luyện chuyên sâu, huấn luyện đêm, huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật, nâng cao độ thuần thục của bộ đội, chú trọng nâng cao kiến thức quân sự hiện đại, đồng thời phải tích cực truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu. Coi trọng huấn luyện các đối tượng kể cả lực lượng thường trực, dự bị động viên và dân quân tự vệ, chú trọng huấn luyện đội ngũ cán bộ có đủ năng lực tổ chức chỉ huy thực hành huấn luyện, chiến đấu trong mọi hoàn cảnh. Tăng cường huấn luyện, luyện tập theo các phương án phòng chống “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, các phương án tác chiến, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Kết hợp huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật với phát triển về thể chất, rèn luyện tâm, sinh lý, sức khỏe, độ dẻo dai, sức chịu đựng bền bỉ, đáp ứng yêu cầu chiến đấu trong điều kiện khó khăn, ác liệt, cường độ cao của chiến tranh tương lai.

c. Nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật trong các đơn vị thường trực

Thực hiện nền nếp chính quy là một trong những yếu tố làm nên sức mạnh và là bản chất truyền thống của Quân đội ta. Vì vậy, phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng nền nếp chính quy, ý thức chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước trong các đơn vị của Quân khu, tạo sự thống nhất, tự giác từ trên xuống dưới. Để đáp ứng yêu cầu đó, đòi hỏi phải làm lốt công tác tuyên truyền, giáo dục các chỉ thị, nghị quyết, pháp luật, các quy định của Đảng, Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, Đảng ủy, chỉ huy các cấp; tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong chấp hành pháp luật và kỷ luật. Gắn kết chặt chẽ xây dựng chính quy, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật với thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đơn vị, đấu tranh khắc phục nhận thức và hành động sai trái, hạn chế tới mức thấp nhất các vụ vi phạm. Chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể địa phương trong mọi hoạt động, ngăn chặn có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu, các tệ nạn xã hội thâm nhập vào đơn vị.

4. Tổ chức tốt công tác hậu cần - tài chính, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang và nền Quốc phòng toàn dân vững mạnh

Tiếp tục nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, thực hành tiết kiệm, tích cực tham gia lao động sản xuất, từng bước ổn định và nâng cao đời sống bộ đội góp phần tăng thêm nguồn lực cho các địa phương và đất nước. Xây dựng hậu cần tại chỗ đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ. Phát huy tinh thần “độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường” chuẩn bị cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động của lực lượng vũ trang Quân khu. Tiếp tục thực hiện tốt phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, làm kinh tế có hiệu quả, đúng hướng, đúng pháp luật và qui định của quân đội, chăm lo cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội, xây dựng cơ quan, đơn vị có môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh; đồng thời cùng địa phương tham gia xây dựng các công trình kinh tế, phúc lợi xã hội trong điều kiện có thể để vừa tạo nguồn thu, vừa góp phần phát triển kinh tế  - xã hội ở các địa phương.

Các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án, phối hợp với địa phương giúp đỡ Nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế ở vùng trọng điểm.

Các đơn vị kinh tế cần tích cực nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp ngân sách và cải thiện đời sống cán bộ, công nhân viên. Trong tổ chức tăng gia sản xuất, làm kinh tế phải chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, giữ gìn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích vật chất và tinh thần, cá nhân và tập thể, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí…

Tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ ý thức yêu quý, giữ gìn vũ khí trang bị kỹ thuật, bảo đảm an toàn tuyệt đối kho tàng, không để xuống cấp các loại vũ khí trang bị do thiếu tinh thần trách nhiệm. Khai thác có hiệu quả, làm chủ các loại vũ khí phương tiện kỹ thuật. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Xây dựng đội ngũ nhân viên chuyên môn ngành kỹ thuật giỏi tay nghề để quản lý bảo quản, bảo dưỡng vũ khí trang bị kỹ thuật, sẵn sàng tiếp nhận các loại vũ khí trang bị hiện đại đảm bảo cho Lực lượng vũ trang Quân khu hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.

5. Tăng cường tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới

Mối quan hệ hữu nghị, hợp tác đặc biệt Việt - Lào là truyền thống quý báu, lâu đời của hai dân tộc và đã góp phần tạo sức mạnh làm nên thắng lợi vĩ đại của cách mạng hai nước Việt - Lào. Do vậy, các thế hệ phải trân trọng, giữ gìn và làm cho tình hữu nghị ấy mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Trong giai đoạn cách mạng mới, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng và tình đoàn kết hữu nghị hai dân tộc, việc hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào không chỉ giữ vững độc lập, chủ quyền và sự phát triển của mỗi quốc gia mà còn góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, mọi luận điệu xuyên tạc tình đoàn kết hữu nghị, mưu toan chia rẽ hai dân tộc. Phối hợp với Bạn, nhất là các tỉnh, các đơn vị kết nghĩa, các địa phương có chung tuyến biên giới, đẩy mạnh hợp tác trên tất cả các mặt, đấu tranh chống tội phạm, chống buôn lậu qua biên giới, đấu tranh chống sự phá hoại của kẻ thù, kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước.

 

Kỷ niệm 76 năm Ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu IV là dịp để lực lượng vũ trang Thừa Thiên Huế, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp Nhân dân tiếp tục phối hợp, giúp đỡ lực lượng vũ trang hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó. Lực lượng vũ trang tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân Việt Nam, nêu cao tinh thần “độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường”, tiếp tục siết chặt đội ngũ, nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế./.

 

PHÒNG CHÍNH TRỊ - BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 281
Hôm qua : 852
Tháng 08 : 8.735
Tháng trước : 24.924
Năm 2022 : 182.266
Năm trước : 359.351
Tổng số : 610.427